Archives

KHI KHOA HỌC NHÌN THẤY ĐỨC PHẬT

Bầu trời chúng ta đang ngước nhìn, khoa học ước đếm có hàng tỉ ngôi sao. Mà trái đất chưa thể lớn bằng một ngôi sao. Phi thuyền của nhân loại mới chỉ bay đến một số ngôi sao trong hệ ngân hà.
 
Kinh Phật mô tả, một dải ngân hà được gọi là đơn vị thế giới. Cứ một ngàn dải ngân hà được tính là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới.
Trong vũ trụ lại có trùng trùng đại thiên thế giới như vậy. Người tu đạt toàn giác (Phật) tức câu thông với vũ trụ, thấu suốt quy luật vận hành của vũ trụ, rồi đem sự thấy biết đó nói lại với các cõi nước thấp thua.
Phật do vậy có thể hiểu đồng nghĩa với vũ trụ. Để thấy rằng Phật không sáng tạo ra vũ trụ, không chế định ra luật nhân quả luân hồi, mà vũ trụ vốn thường hằng từ vô thỉ dù cho Phật có ra đời hay không.Những khám phá vĩ đại của ngành khoa học vật lý lượng tử đem đối sánh với kinh điển nhà Phật đã phần nào hé lộ chân tướng vũ trụ trong con mắt và sự hiểu biết của loài người.

Khám phá về đời sống thực vật, cũng vui ghét giận hờn trước thái độ đối xử của con người. Một kẻ cầm dao chặt cây, từ trường đo được méo xệch chứng tỏ cây đang run sợ. Cũng cầm dao song người ấy chỉ giả bộ, từ trường phẳng lặng cho thấy cây đi guốc trong bụng người.

Rồi cùng thể “vô tình” với cây là nước; khoa học phát hiện nước có biểu cảm, có “kiến, văn, giác, tri”; nước hiểu sâu sắc ý nghĩ cũng như mọi ngôn ngữ trên hành tinh.Thậm chí cốc nước đặt ở Nhật, nếu một người ở Việt Nam quán tưởng yêu thương hay hờn giận một chiều, khi đem kết tinh, chụp lại sẽ cho ra hình ảnh đẹp như kim cương hay xấu như trái thối ứng với niệm của người đã quán đó; có nghĩa không gian bị xóa nhòa.

CÓ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG KHÔNG PHẢI ĐỂ LẤP ĐẦY

ConHac 

Có 2 từ thường lập đi lập lại trong FB của nhiều bạn trẻ là: ” buồn và cô đơn ”.

Dường như chưa có ai đi qua thời niên thiếu mà không từng trải cảm giác đó .Cô đơn . Đó là những lúc bạn cảm thấy tâm hồn cô quạnh ngay giữa chốn đông người , đang quây quần bên người thân mà vẫn thấy riêng mình xa cách , đang cùng bạn bè vui đùa mà vẫn thầm tự nhủ : “Nào có ai hiểu
lòng ta” . Cô đơn. Đó là khi tâm sự ngổn ngang trong lòng mà không biết tỏ cùng ai ,kể cả cha mẹ hay người bạn thân thiết nhất . Là khi ta thấy mình như bị bỏ lại đằng sau trong một thế giới đang rộng ra mãi. Là khi ta thấy tràn ngập trong tâm hồn mình một nỗi buồn dai dẳng không tên . Và rất nhiều khi chỉ là nỗi buồn vô cớ. Cô độc là một tâm trạng đáng sợ. Có người trốn chạy sự cô độc bằng cách …ngủ vùi . Có người cố lấp đầy nó bằng niềm vui ồn ào ở Vũ trường hay trong những trò Games , cũng có người gặm nhấm nó bằng nước mắt .Có người thăng hoa vào nghệ thuật . Nhưng cũng có người bị nó bủa vây không lối thoát , để rồi tìm đến cái chết chỉ vì cảm thấy quá cô đơn . Ít hay nhiều , khi rơi vào sự cô đơn , chúng ta đều cảm thấy tâm hồn mình là một khoảng không đáng sợ , và ta tự hỏi : “Phải làm sao để lấp đầy khoảng trống này đây ?” Nhưng , bạn biết không , khoảng trống đó không phải để lấp đầy.. ( *__* )

Bản chất của con người vốn là cô đơn . Đó là sự thật . Tất cả mọi người đều có lúc cảm thấy cô độc . Cả những người cởi mở , vui tính nhất , hay những người đang chìm đắm trong hạnh phúc vô biên , vẫn luôn có những
khoảnh khắc không thể chia sẻ cùng ai . Những khoảng trống mà ở đó chỉ mình ta đối diện với chính ta . Không phải vì chia tay 1 người bạn , hay mất đi một người thân , hay khi một mối tình tan vỡ thì nó mới xuất hiện . Khoảng trống đã có sẵn ở đó rồi . Luôn luôn ở đó , trong mọi con người. Tôi sẽ đọc cho bạn nghe bài thơ Haiku này :

” Những lỗ trống trong củ sen
Khi ta ăn. Ăn luôn cả nó.”

Bạn thấy chăng ? Những lỗ trống là một phần của củ sen , cũng như sự cô độc là một phần của đời sống . Vì vậy , hãy nhìn thẳng vào nó . ĐỐI DIỆN với nó. Đừng ngại nói : “Tôi đang buồn. Tôi cảm thấy cô đơn” nếu bạn muốn được chia sẻ . Nhưng cũng đừng ngại nói “Hãy để tôi một mình lúc này” nếu bạn thực sự muốn như vậy . Đừng ngại, vì đó là điều bình thường.Tất cả mọi người trên thế gian này đều thế . Chỉ khác nhau ở một điều: cách chúng ta đối xử với nó .
Nỗi cô đơn tạo thành những khoảng trống . Bạn càng muốn trốn chạy thì nó
càng bám đuổi . Bạn càng muốn vùi lấp thì nó càng dễ quay lại vùi lấp
chính bạn . Điều chúng ta nên làm là đừng nên tìm cách lấp đầy khoảng
trống ấy , nhưng cũng đừng để nó lấp đầy chúng ta . Chúng ta chỉ đơn
giản nhận ra sự hiện hữu của nó , và bình tĩnh đối diện với nó.

Người ta gọi tuổi mới lớn là “tuổi biết buồn” . “Biết buồn” tức là đã chạm
ngõ cuộc đời rồi đó . Biết buồn tức là bắt đầu nhận ra sự hiện hữu của
khoảng trống tâm hồn . Biết buồn là khi nhận ra rằng , có những lúc ,
mình cảm thấy cô độc . Khi đó , hãy dành cho sự cô độc một khoảng riêng ,
hãy đóng khung sự cô đơn trong giới hạn của nó , như một căn phòng trống
trong ngôi nhà tâm hồn .

Mỗi lần vào căn phòng đó , dù tự nguyện hay bị xô đẩy , thì bạn vẫn có thể
điềm tĩnh , tranh thủ khoảnh khắc đó để khám phá bản thân trong sự tĩnh
lặng . Để rồi sau đó , bạn bình thản bước ra , khép cánh cửa lại và trở
về với cuộc sống thường ngày , vốn lắm nỗi buồn nhưng cũng không bao
giờ thiếu niềm vui .

Và, bạn hãy cùng tôi thử tập sống đời phụng sự tha nhân trong từng hành động nhỏ nhặt, khi ta làm việc lợi ích cộng đồng, cái cảm giác cô độc sẽ biến mất một cái tự nhiên như giọt nước được hòa vào trong đại dương bao la..

Cô độc là sống một mình
Cô đơn ở giữa muôn nghìn.. cô đơn.

May all living Beings always live happily,
Free from animosity.
May all share in the blessings
Springing from the good I have done.

Kathmandu ngày Hạ tháng 4
Bodhgaya monk

Nhất Tâm, Tinh Tấn và Chuyển Hóa Vọng Niệm

Lời Giảng Dạy của Đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Các bậc tổ sư thường dạy đồ chúng cách tâm niệm để làm phương châm hành trì. Xin Sư ông cho chúng con một lời khuyên dưới hình thức một lời tâm niệm?
Người xưa thường nói: “Sanh tử sự đại” nhưng mình đã quen sống trong sanh tử, ai cũng vậy hết, nên không thấy quan trọng. Kỳ thật, lấy mắt đạo mà nhìn vào thì đó là việc lớn của mọi người, của chúng sanh. Đã lăn lóc mãi trong nhiều đời, hiện tại nếu không cố gắng thì những đời sau cũng vẫn lẩn quẩn trong vũng lầy sanh tử mà thôi.
Gặp được Phật pháp rất khó! Trên đời này không có pháp nào thoát ly sinh tử, chỉ có giáo pháp của Phật mới ra khỏi sanh tử luân hồi. Vì thế, gặp được rồi thì mình phải cố gắng để vững bền trong chánh pháp. Cho nên, Phật dạy tất cả đều phải tinh tấn, nhất tâm. Nhưng chúng ta lại có cái lỗi là luôn phóng dật, giãi đãi. Trong Luật, những khi có việc gì thì các vị Trưởng lão, các vị Đại đức đều khuyên nhắc: “Phải tinh tấn, chớ phóng dật”. Chỉ có hai điều đó thôi! Phóng dật ở thân khẩu thì dễ biết, còn ở tâm ý thì rất khó biết. Hễ duyên theo lục trần đều là phóng dật. Phóng dật thì trôi theo sanh tử. Tinh tấn thì đạt Niết-bàn. Người tu hành phải tinh tấn thì mọi khó khăn đều sẽ vượt qua, mọi công đức sẽ đạt được.

Xin Nhấn vào đây để tiếp tục đọc hết bài – Continue Reading!

DIỆU DỤNG CỦA TÀM QÚY

Một thời, Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, vườn ông Anàthapindika, gọi các Tỷ-kheo:
Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp đen. Thế nào là hai? Không tàm và không quý. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đen.
Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp trắng. Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.
(Kinh Tăng Chi Bộ I, chương 2, phẩm Hình phạt)
SUY NGHIỆM:
Trong mỗi con người đều có đầy đủ những chất liệu của thiện ác lẫn lộn, đan xen. Trừ các bậc Thánh thuần thiện ra, hầu hết ai trong chúng ta cũng đều có nguy cơ gây tạo những nghiệp xấu ác. Nghiệp luôn dấy động và biểu hiện đa chiều trắng đen, thiện cùng bất thiện. Tùy theo sự nỗ lực tỉnh thức, thiết lập khả năng chánh niệm mà mỗi người có thể tự làm chủ và chuyển hóa nghiệp lực của chính mình. Cùng với chánh niệm thường trực, tàm và quý chính là hai nhân tố vô cùng quan trọng để mỗi người tự răn nhắc mình hướng thượng và thăng hoa.
Tàm là một thiện tâm sở, chính là tâm xấu hổ, hổ thẹn với chính mình khi tạo tác ba nghiệp về thân, miệng, ý xấu ác. Trong cuộc sống đã không ít lần mình làm những việc chẳng tốt mà không ai biết, duy chỉ mình là người biết rõ nhất về mình mà thôi. Lẽ thường thì dù việc xấu ác đến mấy mà không ai biết hoặc chưa ai hay thì vô tư xem như mình trong sạch, vô tội. Nhưng với người biết tự hổ thẹn (tàm) thì luôn thao thức, xót xa, xấu hổ với điều đó. Tự mình hỗ thẹn và ăn năn chừa bỏ những việc xấu ác của chính mình là diệu dụng của tâm sở tàm.
Quý là một thiện tâm sở khác, tâm sợ hãi với những ác nghiệp đã làm. Một khi lỡ đã tạo nghiệp xấu ác rồi thì sợ hãi với việc đó. Nhờ sợ hãi nên về sau không dám làm nữa. Không chỉ sợ hãi, quý còn là tâm hổ thẹn, xấu hổ với người khác về những lầm lỗi của mình. Biết sợ hãi cái ác, biết xấu hổ với mọi người xung quanh sẽ giúp chúng ta phục thiện nhanh chóng, đoạn tuyệt với lỗi lầm.
Tàm quý có diệu dụng không thể nghĩ bàn như thế nên Thế Tôn mới gọi đó là hai pháp “che chở cho thế giới”. Nếu không có tàm quý thì thế gian này sẽ trở nên loạn lạc, thậm chí sẽ hỗn loạn, phi nhân tính như của thế giới súc sanh. Nhờ có tàm quý nên chúng ta ý thức rõ ràng về nhân tính, nhân cách mà xóa tan những dục vọng, hôn ám có thể che mờ tâm trí và dẫn đến những hành động xấu xa, đê hèn và ghê tởm nhất.
Trong bối cảnh suy đồi đạo đức nghiêm trọng như hiện nay thì tàm quý tức là tâm hổ thẹn và sợ hãi với cái ác cần được phát huy hơn nữa. Tàm quý vốn có sẵn trong tâm của mình mà vô tàm vô quý cũng có sẵn trong tâm của mình. Tùy theo sự dụng tâm mà thành pháp đen hay trắng, ác hay thiện. Cho nên, hãy xem tàm và quý là những đồ trang sức quý báu luôn khoác lên mình để hoàn thiện tự thân và góp phần “che chở cho thế giới” luôn được bình an.

CƯỜI LÀ BỐ THÍ

    Thích Hải Tín
Đầu xuân lên chùa thấy Đức Di Lặc cười, ta cũng cười. Có mấy ai nghĩ rằng cười được với nhau cũng là một cách bố thí. Vậy cười cũng có thể bố thí sao? Nghĩ kỹ lại thấy rất đúng, cười được với nhau là cho nhau tin yêu, hoan hỷ và cảm thông, đó cũng là bố thí.
Nói đến bố thí, chúng ta thường biết có tài thí như bố thí tiền tài, của cải vật thực; pháp thí là đem lời hay lẽ phải, chân lý đúng đắn, những lời dạy quý báu khuyên bảo người khác, giảng kinh thuyết pháp, in ấn kinh sách; và vô úy thí là an ủi, làm cho người khác không sợ hãi, tăng thêm dũng khí, niềm tin… Như vậy trong ba pháp bố thí ấy, nở một nụ cười thuộc loại vô úy thí. Ví dụ như, người đi khám bệnh, sau khi khám xong chỉ cần bác sĩ nở nụ cười sẽ khiến cho trạng thái tâm lý lo sợ hồi hộp của bệnh nhân tan biến ngay. Nếu bác sĩ mỉm cười an ủi khích lệ, chắc chắn hiệu quả trị liệu sẽ hoàn toàn khác. Tâm lý học hiện đại cho rằng, trạng thái tâm lý có thể cảm hóa người khác. Có một câu chuyện như sau: Có một thợ làm tóc đi mua đồ, gặp phải gương mặt lạnh của người bán hàng, cả ngày trạng thái tình cảm của người thợ làm tóc không tốt cho nên ảnh hưởng đến kết quả làm việc cũng không tốt. Cuối ngày người thợ làm tóc làm mặt cho một người khách, do trạng thái tình cảm không tốt nên làm trầy mặt người khách, sau khi tranh cãi, nhìn lại người khách xui xẻo kia lại chính là người bán hàng mặt lạnh lúc sáng. Mỗi người đều có kinh nghiệm như vầy: Dù một câu tranh cãi cũng khiến mình mấy ngày không vui, thậm chí trút giận lên người khác hoặc đồng sự; một nụ cười luôn luôn khiến mình cảm thấy an vui, những người xung quanh cũng cảm thấy thân thiện, hiệu quả công việc cũng từ đó mà được nâng cao. Ðây chính là sức hấp dẫn kỳ lạ của nụ cười, chúng ta không thể xem thường nó.
Có một số đệ tử xuất gia của Phật cho rằng phải giữ nét mặt cho nghiêm, làm gì cũng không dám mỉm miệng cười, nếu cười e rằng mất oai nghi, do vậy giữ nét mặt nghiêm đến nỗi gần như lạnh nhạt, khiến mọi người “kính nhi viễn chi”, như vậy là người có oai nghi. Mỉm cười là mất oai nghi sao?! Thiền tông có một giai thoại: Một bà lão đã cúng dường một thiền tăng hơn 20 năm rồi, hôm nọ bà lão có ý để một cô gái tuổi thanh xuân xinh đẹp đến thân cận cúng dường, thiền tăng không chút động lòng còn nói “khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noãn khí” (cây khô bên núi lạnh, ba đông không mảnh tình). Sau khi biết được, bà lão giận dữ nói rằng: “Tôi cúng dường 20 năm chỉ nuôi một tục hán!”. Thế là bà đuổi đi và đốt luôn am cỏ.
Thiền là sinh động hoạt bát, tràn đầy sức sống thiền vị, vị thiền tăng kia không hiểu ý này, tuy tu nhiều năm nhưng chưa đạt được thiền vị chân chánh, đành phải cuốn gói ra đi. Có người cho rằng Phật giáo là tôn giáo của niềm vui, tôn giáo của niềm hoan hỷ và đệ tử của Phật là những người hoan hỷ trên thế giới. Đó là một sự thật, pháp hỷ không những tồn tại ở nội tâm mà cũng hiện ra ở bên ngoài, một nụ cười hàm tiếu, một câu nói nhẹ nhàng cũng khiến cho chúng sanh thấm nhuần pháp hỷ thiền duyệt, đây chẳng phải lúc nào cũng thực hành pháp bố thí một cách thiết thực đó sao! Ðức Phật dạy rằng: “Hoan hỷ là nguồn gốc mở mang trí tuệ của những người giác ngộ”.
Có người sẽ nói, ôi mỉm miệng cười ai mà không làm được, chuyện nhỏ sao gọi là pháp bố thí? Kỳ thực, cái gọi là “mỉm cười” của đa số mọi người chỉ là sự vận động của bắp thịt trên gương mặt, hoàn toàn không phải phát xuất từ nội tâm, đương nhiên không có sức cảm hóa người khác một cách sâu sắc. Khi có niềm hoan hỷ từ nội tâm thì nụ cười hàm tiếu sẽ hiện ra. Tất cả chúng ta đều có thể nghiệm như vầy, mỗi khi chúng ta có nhân duyên thân cận những vị cao tăng hoặc chư vị thiền giả, điều đầu tiên chúng ta nhận thấy đó là nét mặt từ hòa, nụ cười của những vị ấy sẽ khiến cho chúng ta không thể quên, giống như thắp lên một ngọn đèn sáng trong tâm linh của chúng ta. Khi nụ cười của chúng ta tràn đầy pháp hỷ thiền vị, cũng có thể thắp lên ngọn đèn tâm linh cho những người khác, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc, an lạc.
Một người dù mọi lúc mọi nơi dùng nụ cười chân thành để đối đãi với mọi người, cảm hóa mọi người, đó cũng chính là sự hiển lộ của Phật tánh, bắt đầu giác ngộ, chính là phát Bồ đề tâm. Ðặc biệt là hàng đệ tử của Phật cần dùng nụ cười hàm tiếu tràn đầy niềm hoan hỷ thiền vị thông qua lời nói và việc làm để ảnh hưởng những người xung quanh, khiến cho mọi người có duyên thân cận với giáo pháp, quy y Tam bảo, dần dần đi vào con đường giải thoát an vui hạnh phúc.
Chúng ta kính ngưỡng Bồ tát Di Lặc không chỉ vì gương mặt Ngài lúc nào cũng mang một nụ cười hoan hỷ, đem lại cho mọi người một niềm tin, an lạc. Chúng ta nên học hạnh Bồ tát để nụ cười hoan hỷ phát xuất từ nội tâm của chúng ta tưới ướt ruộng tâm gần như khô cạn của con người trên thế giới.
Như vậy cười là một pháp bố thí. Bố thí là một pháp trong Tứ nhiếp pháp, là một pháp trong Lục độ vạn hạnh của Phật giáo. Bất cứ ai cũng có thể thực hành, để đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm an lạc cho chính mình và tất cả mọi người.

CHIẾC LÁ SẠCH

Lá sạch bồng bềnh nỗi nước trong

Những lời vu khống có như không

Ví như nước đổ lá liền động

Nhờ tiếng thị phi nhập Thánh dòng

Hiểu Kỳ

Có một thanh niên từ ngàn dặm xa xôi tìm đến đại sư Thích Tế chùa Nhiên Đăng, thưa rằng : – Con là một thư sinh luôn biết Tam cương-Ngũ thường.. từ xưa đến nay không bao giờ biết nói những lời vu khống bịa đặt, không gây ra chuyện thị phi, nhưng không hiểu vì sao luôn có người dùng lời ác độc chưởi bới con, dùng lời bịa đặt dơ bẩn hủy nhục con. Đến hôm nay, con thật sự không chịu nổi nữa, nên con muốn vào chùa cạo tóc làm tăng để xa lánh chốn bụi hồng, xin Đại sư hãy thâu nhận đệ tử !
Ngay ay em di

Đại sư Thích Tế yên lặng nghe chàng trai nói xong, bèn mỉm cười bảo rằng : – Thí chủ hà tất vội vã, đợi bần đạo vào trong sân nhặt một chiếc lá sạch, thí chủ sẽ có thể biết được tương lai của mình và mình nên sẽ làm gì.
Đại sư dẫn chàng trai đến bên một con suối nhỏ chảy ngang qua chùa, tiện tay hái một lá trên cây xuống và bảo với một chú tiểu đi lấy dùm cho mình một cái thùng và một cái gáo múc nước.
Chú tiểu vội vàng mang thùng gỗ và chiếc gáo hồ lô đến trao cho Đại sư. Thích Tế kẹp lấy chiếc lá sạch trong tay và bảo chàng trai : – Thí chủ không gây ra chuyện thị phi, xa rời bụi trần, cũng giống như chiếc lá sạch trong tay bần đạo vậy.
Vừa nói, Thích Tế vừa đặt chiếc lá vào trong thùng, xong chỉ vào thùng nói : – Nhưng hôm nay thí chủ không may gặp phải những lời chưởi bới, hủy nhục vây hãm vào trong giếng sâu khổ đau trần thế, có phải giống như chiếc lá sạch bị bỏ vào trong tận đáy thùng này hay không ? Chàng trai thở dài gật đầu thưa : – Thưa vâng, con chính là chiếc lá dưới đáy thùng.
Đại sư Thích Tế đặt thùng nước lên trên một tảng đá bên cạnh bờ suối, khom người múc một gáo nước dưới suối lên, nói : – Đây là một câu chưởi bới dành cho thí chủ, với ý đồ muốn nhấn chìm thí chủ.
Vừa nói, vừa dội gáo nước lên trên chiếc lá trong thùng, chiếc lá chao động mạnh, sau đó lặng lẽ nổi lại lên mặt nước. Đại sư khom lưng múc thêm một gáo nước kế tiếp, bảo rằng : Đây là câu chưởi bới độc ác của loại người thô lỗ thấp hèn dành cho thí chủ, vẫn với một mưu đồ là muốn nhấn chìm thí chủ như trước, vậy thí chủ hãy nhìn xem lần này chiếc lá sẽ như thế nào ?

Theo cách đã làm, Đại sư dội gáo nước lên chiếc lá, nhưng chiếc lá chỉ lắc lư và lại nổi lên trên mặt nước như cũ. Chàng trai hết nhìn nước trong thùng, rồi lại nhìn chiếc lá nổi bềnh bồng, thưa với Đại sư : – Chiếc lá không hề bị tổn hại, chỉ là nước trong thùng sâu, chiếc lá theo mực nước mà cách miệng thùng càng lúc càng gần..

Đại sư Thích Tế nghe xong, mỉm cười gật đầu, lại múc thêm một gáo dội lên chiếc lá, bảo chàng trai rằng : – Lời nói bịa đặt hay xỉ mạ thấp hèn..không có cách nào đánh chìm được một chiếc lá sạch. Chiếc lá sạch bị chao động bởi những lời nói vu khống, hủy báng dội lên thân nó, nhưng nó không những không bị chìm xuống dưới đáy, ngược lại tùy theo mức gia tăng của nước ( những lời nói vô bổ, tùy tiện và thô lỗ ), khiến nó càng nổi lên cao, từng bước từng bước xa rời đáy thẳm.
Đại sư vừa nói, vừa tiếp tục đổ nước vào thùng, thoáng chốc nước tràn đầy, chiếc lá rốt cuộc đã nổi lên trên mặt thùng. Chiếc lá rực rỡ, giống như một chiếc thuyền lá nhỏ, nhẹ nhàng nhấp nhô, lắc lư theo dòng nước.

Đại sư Thích Tế ngắm nhìn chiếc lá cảm thán rằng : – Nếu lại có thêm những lời vu khống thô lậu, hủy báng thấp hèn, thì càng tuyệt.
Chàng thanh niên nghe xong, không hiểu thâm ý, bèn thưa với Đại sư rằng : – Vì sao Ngài lại nói như thế ?

Thích Tế cười, múc thêm hai gáo nước, dội lên chiếc lá trong thùng, nước trong thùng tràn ra bốn phía, lôi theo chiếc lá xuống tới dòng suối, chiếc lá nhập dòng ung dung trôi đi. Đại sư bảo chàng trai : – Những lời bịa đặt, vu khống, xỉ mạ thấp hèn bỉ ổi ..rốt cuộc sẽ giúp cho chiếc lá vượt thoát được vòng kiềm tỏa, hướng đến sông dài, biển lớn và những phương trời cao rộng thênh thang.

Chàng thanh niên hốt nhiên tỏ ngộ, vui mừng khấu tạ Thích Tế : – Thưa Đại sư, con đã hiểu rõ rồi, một chiếc lá sạch sẽ không bao giờ bị nhấn chìm xuống đáy nước. Những lời nói vu khống bịa đặt, hủy báng sỉ nhục chỉ có thể giúp gội rửa một tâm hồn vốn đã trong sạch, lại càng trong sạch thêm mà thôi.

Đại sư Thích Tế mỉm cười hoan hỷ.

http://nguyenuyenthu.vnweblogs.com/gallery/10044/L%C3%A1%20c%C3%A2y%20v%C3%A0ng%20v%C3%A0%20%C4%91%E1%BB%8F%20r%E1%BB%B1c%20soi%20m%C3%ACnh%20trong%20d%C3%B2ng%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20%E1%BB%9F%20h%E1%BA%BBm%20n%C3%BAi%20trong%20c%C3%B4ng%20vi%C3%AAn%20qu%E1%BB%91c%20gia%20Zion%20%E1%BB%9F%20Utah%20(M%E1%BB%B9).%20M%E1%BB%99t%20b%E1%BB%A9c%20tranh%20th%E1%BB%A7y%20m%E1%BA%B7c%20tuy%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BA%B9p..jpg